Showing posts with label Văn Học - Nghệ Thuật. Show all posts
Showing posts with label Văn Học - Nghệ Thuật. Show all posts

Monday, December 3, 2012

Đánh đu cùng số phận (2)



Tôi định té mà không kịp, bà chủ đã gọi tôi xuống bảo đưa ông khách quen lên lầu. Tôi còn định nói với bà chủ là hôm nay tôi thấy tháng, nghĩ thế nào lại thôi. Vừa giáp mặt ông tôi bỗng thấy ngượng nghịu, đỏ bừng mặt chào không ra tiếng. Thì ra tôi vẫn còn là con điếm biết xấu hổ. Tôi lẳng lặng dẫn ông lên lầu, mặc dù thâm tâm biết đến tám, chín phần ông không phải như các con dê già khác thích chơi trống bỏi thường mò đến đây. Ông thì không tỏ vẻ ngạc nhiên khi gặp tôi, rõ ràng ngay ở trong công viên nước ông đã tin lời thằng nhóc bẻm mép, hỗn hào kia rồi. Ông hỏi nhỏ vào tai tôi: Bác cháu ta ra ngoài đi dạo quanh đây được không? Tôi ngúng nguẩy bảo, nhà chủ không cho phép bọn cháu ra ngoài, cứ vào buồng hẵng nói mọi chuyện.
Căn phòng chừng chục mét vuông có đủ cả giường trải ga trắng tinh, điện thoại bàn, phích, tivi, tủ lạnh, điều hoà không khí, toilet, bình nóng lạnh, gương soi, vòi rửa, bồn tắm… hệt như mọi căn buồng khép kín chuyên phục vụ khách làng chơi của các lầu xanh khác hoạt động bí mật hoặc bán công khai rải ra trên khắp thành phố hoa lệ nhốn nháo này. Tôi cẩn thận chốt cửa, nhưng ông cười bảo không cần, cứ để mở thì hơn. Tôi cau mặt không chịu. Đã vào đây sao lại không chốt cửa. Vậy là cụ “Khốt- ta- bít” này thua xa cụ “Khốt” nhà tôi ở cái khoản chơi gái rồi! Tôi lại có “nhận định” mới như vậy. Nghĩ đến đấy, bỗng dưng tôi càng thấy ngán ngẩm cho gia cảnh nhà mình, giá tôi có được một ông bô tư cách như thế này thì đâu đến nỗi. Nẫu cả ruột gan!
Vừa ngồi xuống cái ghế đối diện với tôi, ông nói ngay:

- Cháu rất giống đứa con gái bác. Từ gương mặt, tóc, dáng đi. Bác đã quan sát kỹ cháu lúc ở công viên nước.

- Chị ấy giờ làm gì ạ? Tôi hỏi.
- Nó chết rồi - Ông bỗng thốt ra câu ấy một cách não nề - Chết lúc mười tám tuổi, chắc là bằng tuổi cháu bây giờ. Nếu còn giờ con gái bác đã gần ba mươi rồi.
- Chị ấy bị bệnh gì ạ?
- Không, con gái bác khỏe mạnh, từng trong đội tuyển bơi lội của thành phố. Năm ấy gia đình bác đi nghỉ mát ở Sầm Sơn. Đỗ Quyên nhà bác vừa có giấy gọi vào Đại học Ngoại giao, nó rủ người yêu cùng đi. Trưa hôm đó, lúc nó với bạn trai đang bơi gần đến chỗ cắm cờ báo hiệu vùng nước nguy hiểm không được vượt qua, thì bỗng có một luồng sóng khác lạ từ ngoài ập tới, nó chới với rồi mất hút, còn cậu bạn trai hốt hoảng vùng vẫy, thuyền cứu hộ gần đấy chỉ kịp vớt lên được một đứa. Mọi phương tiện và cả những người bơi lặn giỏi được huy động ngay nhưng đều vô vọng, không thấy tăm tích con gái bác. Mãi đến chiều, tìm được xác con gái bác bị sóng đánh dạt vào ghềnh đá cách chỗ nó bị rút xuống hơn nửa cây số, phía chân và đùi bị nhiều vết răng cá mập cắn nham nhở. Mà biển Sầm Sơn đã bao năm nay có bao giờ thấy cá mập xuất hiện đâu. Nếu không gặp họa lớn như thế, con gái bác sao mà chết đuối được, nó là vận động viên bơi lội từng đoạt huy chương vàng toàn thành cơ mà.
Nói đến đây đầu ông gục xuống, dường như câu chuyện quá đau lòng của mười năm trước vừa mới xảy ra ngày hôm qua. Tôi vội với tay lấy bình nước rót ra cốc mời ông. Ông ngửng lên. Có ngấn nước sau cặp kính của ông, bản thân tôi nghe xong câu chuyện cũng thấy cay cay nơi sống mũi. Ông nhắp một chút nước lọc tôi đưa và chậm rãi nói tiếp, giọng đã khàn hẳn:
- Bác gái cùng đi nghỉ đợt ấy, ngất lên ngất xuống. Bà ấy vốn bị bệnh tim. Rồi chỉ một năm sau bà ấy đã đi theo con gái, để bác bơ vơ một mình. Nếu không còn niềm vui trong công việc chắc bác đã không sống nổi.
Ông tháo hẳn cái kính đã nhoè nước ra lau. Tôi chợt thấy đôi mắt ông như ngơ ngác, mờ đục, thâm quầng, làm ông già thêm hàng chục tuổi. Tôi vội chuyển sang chuyện khác:
- Bác về hưu rồi ạ?
- Chưa - Ông nói - Bác là giáo sư. Giáo sư được làm đến sáu nhăm tuổi. Còn hai năm nữa mới về.
Ông đã đeo kính lại, hướng vào tôi, lời nói trở nên thì thầm:
- Cháu giống như chị em sinh đôi với con gái bác năm ấy. Lúc gặp cháu ngoài công viên bác giật mình, hay Đỗ Quyên sống lại? Hay đây là kiếp luân hồi? Bác vừa lên một thị trấn của tỉnh miền núi H. tìm hiểu về hai đứa bé. Người ta đồn đại rằng đứa trước con một gia đình người Kinh dưới xuôi lên khai hoang cũng bị chết đuối, đã nhập vào đứa sau đang sống ở nhà người dân tộc Mường thuộc thị trấn ấy. Chúng cách nhau tám tuổi. Cháu đã nghe câu chuyện lạ như thế chưa?
- Chưa ạ -  Tôi lắc - Bọn cháu chui rúc suốt ngày không chỗ trọ thì trên lầu, có nghe được chuyện gì lạ ngoài đời đâu ạ.
- Ờ! Ông thốt lên vẻ mặt buồn hiu, rồi hỏi tiếp - Chắc nhà cháu nghèo lắm?
Tôi hiểu ông quan tâm đến tôi vì tôi có gương mặt, dáng dấp giống chị con gái mệnh yểu của ông. Còn nửa tháng nữa tôi mới tròn mười tám tuổi và đây sẽ là lần đầu tiên ở nhà không thể tổ chức sinh nhật cho tôi. Tôi biết trả lời ông thế nào. Nhà tôi rõ ràng không nghèo so với nhiều nhà, vì bố tôi làm quan huyện cơ mà. Mà làm quan thời nay có ai chịu nghèo đâu. Tôi vẫn nghe bạn bè bình phẩm nhà đứa này giàu, đứa kia nghèo, hoá ra chỉ toàn con dân đen mới nghèo, con quan từ tỉnh đến huyện, xã chả ai trong diện nghèo phải cứu tế cả…
- Sao cháu không trả lời bác? Ông lại hỏi. Tôi đành phải thú nhận một phần sự thật mà chẳng bao giờ muốn nói ra, khi tôi đã quyết chí đi bụi thì gia đình chẳng còn là cái gì, quá khứ chẳng đáng cho tôi nhớ đến. Tôi muốn quên đi tất cả, tôi muốn từ giã cuộc đời này, chỉ tiếc tôi rất nhát, thấy con chuột, con giun đất cũng bủn rủn cả người, huống chi phải tự làm cái việc như tròng sợi dây vào cổ mình, trích máu cổ tay mình hay ra suối cái ở đầu thị trấn mà lao đầu xuống thác nước. Tôi nói:
- Cháu gia đình cán bộ. Đủ ăn.

Ông lại truy tiếp:

- Bố mẹ cháu làm gì?
- Bố cháu chủ tịch huyện, mẹ cháu giáo viên tiểu học. Bị dồn vào thế cùng, tôi không thể không tiết lộ chút sự thật ấy. Tôi thấy trên vầng trán bóng như gương của ông chợt gồ lên những nếp nhăn chạy dài và ông còn lẩm bẩm mấy lần câu “chủ tịch huyện” một cách khó hiểu. Đúng, ai hiểu nổi gia cảnh nhà tôi. Ông bô tôi cũng là “đầu gà”, vua xứ mù đấy chứ có kém cạnh gì ai mà để con gái phải đến nông nỗi này! Một khi tôi đã tự đày đoạ thân xác, cũng là bước đường cùng mà thôi. Bác ơi, bác có nỗi đau của bác, cháu có có nỗi đau của cháu, cùng đau cả, nhưng nguyên cớ thì khác xa nhau lắm, khó thông cảm với nhau lắm, nói ra cũng chẳng giải quyết được chuyện gì đâu! Bỗng tôi thấy uất nghẹn không kìm nén được mà oà khóc. Khóc thút thít. Lúc sau lại khóc to thành tiếng, vừa khóc vừa lắc đầu quầy quậy tỏ ý không muốn nói thêm gì nữa. Ông cứ để tôi khóc, thừ người ra hồi lâu.
Bên ngoài đã nghe có tiếng rục rịch, lào xào chắc hẳn cuộc mây mưa ở các phòng bên cạnh đã xong. Bánh đã bóc, tiền đã trả. Tôi ngửng lên nhìn ông, lau nước mắt hoen trên má bảo nhỏ: Hết giờ rồi. Ông “thế à” một câu tỏ vẻ ngạc nhiên, rồi lập cập đứng dậy. Hình như ông vẫn đang bị choáng váng, không còn tỉnh táo như lúc mới vào đây nữa? Tôi bỗng ái ngại cho sức khoẻ của ông, lại rót thêm cốc nước đưa ông. Ông không uống, còn hỏi lại một câu như người đang ngủ mơ: Về à? Tôi cười gượng, nói là xong phần của cháu, đã vào đến đây cụ tám mươi cũng gọi là anh, xưng em, bác là người đầu tiên trong phòng này cháu gọi là bác xưng cháu đấy. Ông lại “thế à” một cách ngây ngô, vẻ mặt ra chiều khó hiểu. Ở đời có đứa con gái mười tám gọi ông già sáu mươi là anh xưng em sao?
Tôi ngần ngừ không muốn mở cửa. Sẽ thanh toán thế nào đây với mụ Tú Bà, trong túi tôi chỉ có vài chục đồng đủ tiền đi xe ôm về nhà trọ thôi. Dường như ông đã đọc được sự lăn tăn ấy trong suy nghĩ của tôi, ông móc vào túi lấy ví ra, chìa trước tôi bốn tờ năm trăm nghìn đồng mới cứng, bảo:
- Giờ bác chỉ còn ngần này. Cháu cầm tạm làm vốn rồi trở về quê ngay. Đừng bao giờ quay lại nơi này nữa.
Tôi hoàn toàn ngỡ ngàng. Ở đây đi nhanh thì “hai cành” tức ba trăm nghìn đồng tiền phòng gộp cả vào đó luôn, rồi cưa đôi mình một nửa, bà chủ một nửa. Mình mất thân xác, bà chủ mất tiền nhà, tiền làm luật với công an, khu phố, vậy là sòng phẳng. Nhưng tôi về thành phố huỷ hoại đời con gái của mình không phải vì tiền mà vì uất hận, một khi còn hận thì còn bán thân, chưa biết khi nào nỗi hận ấy chấm hết để trở lại với đời thường được. Nỗi hận ấy giờ sao tôi có thể giãi bầy vài câu với ông? Ông là khách vãng lai như trăm nghìn kẻ đã đến rồi đi không bao giờ gặp lại nữa. Nỗi đau ông vừa kể đã đủ chôn vùi cuộc đời ông rồi, còn quan tâm được đến ai nữa. Tôi càng không thể làm phiền một người tử tế như ông, lợi dụng lòng trắc ẩn của ông. Nhưng tôi vẫn cần tiền để sống, để tồn tại mà trả thù đời. Đằng nào tôi cũng là đứa độc ác, đứa hư hỏng, đứa ích kỷ, tôi biết bạn bè, người thân của tôi trên quê vẫn tìm tôi, vẫn nguyền rủa tôi như vậy. Giờ ông cứ nhất quyết bắt tôi phải nhận số tiền quá lớn kia, nhưng tôi vẫn còn chút sĩ diện bảo là chỉ xin bác một tờ thôi, cháu còn phải thanh toán với nhà chủ, nếu không cháu đã chẳng lấy đồng nào của bác vì cháu có mất tí sức lao động nào đâu. Ông cười, cái cười của người miệng rộng thật độ lượng, bảo là cháu cứ cầm lấy cả đừng ngại ngần gì. Hôm nay bác vừa lĩnh nửa tháng lương, đã có đủ chi tiêu cho nhà rồi. Bác sống một mình chẳng cần nhiều tiền, khi chết đã có cơ quan đoàn thể lo, có bảo hiểm xã hội lo. Bác ái ngại cho cháu lắm. Cháu tên gì nhỉ? Giờ cháu chưa thể nói, nhất quyết muốn giấu biệt chuyện riêng tư, tùy cháu. Nhưng bác đã biết sơ sơ hoàn cảnh cháu như thế, nhất định khi khác bác sẽ tìm hiểu. Còn, nếu quả Đỗ Quyên nhà bác nhập vào cháu thật, thì bác lại càng không thể bỏ rơi cháu.
Phạm Quang Đẩu
Còn tiếp...
(Tiểu thuyết "Đánh đu cùng số phận" của Phạm Quang Đẩu, do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2012)
Nguồn : vnexpress.net

Đánh đu cùng số phận


Chương I.
Ông đang hướng xe về phía Phong Vị Quán nơi tôi đang ngồi. Hôm nay tôi thấy kinh. Đáng lẽ không đi làm, nhưng chiều qua vội về bỏ quên cái áo khoác trên quán nên đến lấy thì vừa vặn nhác thấy bóng ông ngoài đường. Ngày ngày khách ra vào quán tấp nập như đi chợ. Đây quả giống cái chợ, nhưng là chợ “đặc biệt” chỉ tồn tại trong bóng tối, có thể gặp ở nhiều nơi. Mò đến đây họp chợ toàn khách động hớn, ham vui. Chủ chợ thì để đạt tới cái lợi nhuận siêu ngạch chiều khách bằng mọi giá, dẫu đã lo lót mọi bề mà vẫn luôn nơm nớp “cớm chìm” trà trộn và nhà chức trách úp chụp mẻ lưới lúc nào không hay. Khách đã lọt vào đây phút chốc đều mang vẻ mặt bí hiểm trơ lì, dẫu có quen nhau bên ngoài, vào rồi cũng lờ lớ lơ coi như không biết nhau, mua phải món hàng đẹp, xấu, béo, gầy, cao, lùn, thơm, hôi, rắn, mềm tùy thuộc vào may rủi, để rồi lặng lẽ biến khi đã trút cạn tiền vào cái lỗ vô thuỷ vô chung (thứ tiền bầy nhầy tanh tưởi, thật tởm!). Không biết ông có thuộc hạng khách ba vạ ấy không?
Công viên nước cách quán không xa, cách đây ba hôm tôi đưa thằng nhỏ ra chơi đã tình cờ gặp ông ở đấy. Trong mấy đứa gái quê lên quán đợt này không hiểu sao bà chỉ tin tôi và thường giao cậu ấm cho tôi dỗ dành mỗi khi nó giở trò vòi vĩnh, quậy phá. Bà chủ bảo: Mày rước hộ ông mãnh đi cho tao nhờ, nó ở nhà nhũng nhẽo sốt ruột lắm, tao sẽ bù ba suất tính vào nửa ngày cho mày, được chưa? Còn gì bằng! Tôi đang ươn người, “ba suất” tức ba con đực giày vò mình đến lúc mệt nhoài còn sướng nỗi gì, giờ thì được khỏe thân vẫn có tiền, lại thoả thuê ngắm trời, ngắm bọn nhóc nô đùa. Từ ngày bỏ rừng về xuôi, lạ là tôi toàn gặp bọn cưa sừng làm nghé, chứ ít gặp bọn choai đi hoang. Nhiều lão nom rõ là ông cốp, đạo mạo, bụng phệ đi lại lạch bạch hệt dáng ông bô bất hảo của tôi ở nhà (bố tôi chủ tịch huyện cũng là cốp). So với những đứa cùng trang lứa tôi có nhiều điểm trái tính trái nết, ở lớp vẫn gọi tôi là con “quái vật”. Hồi học lớp 10, cô giáo văn chẳng đã có lần khen tôi trước lớp: Em Diệu Thúy có khiếu quan sát sự việc, suy nghĩ sâu, tả cảnh hay, viết ít lỗi chính tả, mai đây sẽ trở thành nhà văn chí ít cũng nhà thơ (cô coi làm văn khó hơn làm thơ). Nhưng thật trớ trêu, chỉ sau lần cô giáo đoán hậu vận cho tôi như thế có một năm rưỡi, tôi trở thành con điếm. Điếm chuyên nghiệp. Bà chủ bảo: Đứa nào hành nghề ở đây đều là điếm chuyên nghiệp cả, đều có tên trong sổ đen công an cả. Nhưng không việc gì phải hãi, tao đã đấm mõm hết, rải tiền từ thành phố đến quận, phường rồi. Một khi tôi đã phẫn chí bỏ nhà đi bụi, thì điếm chuyên nghiệp hay điếm nghiệp dư cũng chỉ là một nghề mạt hạng nhất trong mọi thứ nghề trên đời này mà thôi. Chấp hết!
Trời mỗi lúc mỗi nắng gắt. Thằng bé trượt máng nước chán chê, tìm tôi đòi ăn kem cốc. Tôi lần túi. Nắm tiền lẻ vào cổng mua vé xong nhét sau quần bò bị rơi từ lúc nào không hay. Thằng bé cứ đổ rịt cho tôi lấy cắp tiền của mẹ nó, bảo rành rành lúc đi mẹ đưa chị tờ năm mươi ngàn, tiền vé hai mươi ngàn còn ba mươi ngàn chị giấu đâu? Tôi định tát cho nó một cái, nhưng nghĩ con bà chủ mà phải kìm tay. Nhưng thằng bé nhất định đòi lại tiền, còn nhẩy choi choi xỉa vào mặt tôi. Tôi bảo, tiền bị mất thật tao không giấu. Nó càng làm tàng. Cáu sườn, tôi đẩy nó một cái ngã chỏng vó xuống bãi cỏ. Nó khóc toáng, đéo lắt đầy mồm. Đúng lúc ông đầu hói đeo kính trắng đến, miệng cười mắt nheo hỏi sao chị em làm ầm ĩ thế? Thằng nhóc được thể vùng ngay dậy, chỉ thẳng vào mặt tôi: Đồ con điếm ăn cắp! Tôi choáng. Hoa cả mắt, rụng rời cả chân tay. Nếu ở nhà nó chửi thế, chửi nữa tôi cũng chẳng coi là gì, không chấp đồ chíp hôi, ở đây xung quanh bao nhiêu người đang quây lại, bao nhiêu ánh mắt dọi cả vào tôi, có lỗ nẻ nào mà chui xuống. Bỗng ông đeo kính nghiêm mặt bảo với thằng nhóc là cháu không được nói hỗn với chị, bác cho tiền mua kem. Không phải chị cháu, thằng bé vùng vằng, mặt vênh lên với tôi. Ông đeo kính liền mở ví đưa tôi tờ năm mươi nghìn đồng, thằng bé thấy thế đứng im re. Ông bảo tôi cầm cả mua kem. Mấy kẻ hiếu sự xung quanh thấy hết trò tản đi. Tôi ngước nhìn ông lí nhí nói câu cảm ơn rồi lôi xềnh xệch thằng nhóc đến quầy kem. Tôi mua hẳn bốn ốc kem, còn ít tiền thừa giúi vào túi ngực nó bảo cầm về trả mẹ, hôm nay tao bị rơi mất tiền thật, mày là trẻ con mà hay nói bừa làm mất thể diện tao. Nhóc mới sáu tuổi rưỡi thôi, chưa đến lớp ngày nào mà đã biết đối đáp bằng một câu chua hơn dấm, hệt giọng cụ non: Điếm mà có sĩ diện à! Ông đeo kính đứng ngay sát tôi, tỏ vẻ ngạc nhiên khi nghe thằng nhóc nói ra câu ấy, rồi ông chỉ vào cái ghế đá cạnh gốc cây to bảo hai cháu ngồi đấy ăn cho hết, thiếu bác mua nữa.
Cả ba đều ngồi. Thằng nhóc háu ăn vục mặt xơi liền hai ốc kem, tôi thì cứ cầm trên tay hai chiếc nữa chờ nó ăn xong đưa nốt. Ông đeo kính nhìn tôi bảo: Cháu ăn đi, ngại gì. Tôi lắc đầu, cháu không thích, buốt răng lắm. Thằng nhóc cả thèm chóng chán, nước kem nhoen nhoét quanh mồm, sớt cả xuống áo, xuống giày, nhăn mặt sài lắc khi tôi đưa tiếp hai cái còn lại. Nó vụt đứng lên chạy ra phía vòi nước rửa tay, rửa mồm. Hai cái kem trong tay tôi bị nắng bắt đầu nhũn, tôi liền đưa ông một cái. Bác ăn giúp, cháu cố cái này, khỏi phí. Ông cười, thè lưỡi liếm ngon lành chỗ kem chảy ra ngoài vỏ bọc bằng bánh quế vừa dai vừa mềm cuốn hình loa kèn. Hoá ra ông ăn kem rất nghề, cắn gọn từng miếng ngon lành không sớt giọt nào ra đất. Tôi thì thè lưỡi như con mèo tam thể của tôi nuôi trên nhà, liếm mút từng tí một, không dám cắn miếng to. Cuối cùng cũng giải quyết gọn. Giờ tôi có dịp “nhận định” về ông đeo kính tốt bụng mới quen đang ngồi trước mặt. Ông chắc phải hơn ông bô tôi ở nhà hàng chục tuổi chứ không ít, tức đã ngoài sáu mươi, nhưng ông trẻ hơn tuổi bởi có cái cười tươi, khoé miệng kéo đến mang tai, phô bộ răng trắng đều tăm tắp; khóe mắt thì luôn nheo nheo vui vẻ (không phải mặt lúc nào mặt cũng như đâm lê của ông bô tôi ở nhà). Ông hất hàm về phía thằng bé đang rửa tay ở vòi bảo, thằng bé kia con nhà ai mà nghịch quá nhỉ, chắc cháu không phải chị ruột nó, thôi đừng chấp nó. Ông còn bảo, cháu không phải người thành phố này, quê ở đâu? Tôi trả lời qua loa quýt luýt, chỉ nói quê mạn ngược, tuyệt nhiên không nói tên, không nói tuổi. Dại gì tiết lộ thân phận. Đúng lúc thằng bé trở về, tôi vội cầm tay nó cúi chào ông. Đang định phới cho nhanh, bỗng ông chỉ tay về phía Phong Vị Quán hỏi: Nhà cháu ở đấy phải không? Đáng lẽ tôi phải lắc, lại theo phản xạ tự nhiên gật luôn, thành ra giấu đầu hở đuôi mới chán mớ đời chứ!
Còn tiếp...
(Tiểu thuyết "Đánh đu cùng số phận" của Phạm Quang Đẩu, do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2012)
Nguồn : vnexpress.net

Trần Đăng Khoa: Nói tiếp về chuyện cưới


Trần Đăng Khoa: Nói tiếp về chuyện cưới


(VOV) - Vui thì có vui, nhưng quả cũng mệt. Bởi thế, tôi ủng hộ việc làm của Thành ủy Hà Nội, gợi ý cưới giản dị.
Trong một lần hầu chuyện bạn đọc trong tuần trước, tôi đã trịnh trọng mời các “Thượng Đế” ngược thời gian, trở lại cái làng quê lam lũ của tôi, rồi cùng ngắm lại mấy đám cưới của một thời hào hùng, đói khổ nhưng trong vắt. Bây giờ, cái không khí vui vẻ có phần kỳ khôi ấy chỉ có thể tìm thấy trong…cổ tích. Làng chẳng khác gì phố. Đám cưới lại còn kềnh càng hơn. Có nhà ăn cưới rình rịch đến ba ngày. Ngày dựng rạp: Mổ lợn, đón khách xa. Ngày thứ hai cưới chính thức. Ngày thứ ba: Dỡ rạp và dọn dẹp: Cũng lại mổ lợn. Nhà cô dâu cách nhà chú rể chỉ một đoạn ngắn mà cũng xe cộ đón rước rỉnh rảng. Nhà thơ Trần Nhuận Minh cũng đã ghi chép chân thực cảnh đón dâu theo kiểu một bác “phó nháy”. Đây là cưới “đúp hai”. Nói theo giọng các cụ là “rổ rá cạp lại”. Chú rể là một lão già, đã tung tảy khắp mọi nẻo đường tình rồi. Thế mà vẫn rất oách:
Lão bảo: Cưới “nhí” về làm thiếp
Tính lão không ưa chuyện lòng vòng
Thuê hẳn hai hàng bình bịch
Vừa đi vừa bắn pháo bông
Đúng là một trọc phú. “Bình bịch” là xe máy. Bà con thôn quê “phiên” theo tiếng nổ “bịch bịch” của nó mà đặt tên xe cho có phong vị cổ. Đón dâu bằng “bình bịch”, dù có pháo bông bắn yểm trợ như nghi lễ đón vua chúa hay nguyên thủ quốc gia thì cũng vẫn cứ nhếch nhác. Ở một xóm nghèo Hà Tĩnh trong buổi đón dâu, người ta còn thấy xuất hiện hàng trăm xe khủng, xe đắt nhất có giá đến mấy chục tỷ đồng. Đó là đám cưới con một đại gia nhà quê. Đối trọng lại, là một dàn xe trâu kềnh càng, cót két rước dâu ở một đám cưới ngoại ô thành phố.
Nhạc cưới giật đùng đùng. Sân rạp rùng rùng như động đất. Mấy em chăn lợn nhóng nhánh trong những chiếc váy mỏng tang, ngắn cũn cỡn như váy búp bê. Ông bạn tôi ngán ngẩm: “Có phải ai cũng mặc váy được đâu. Muốn diện váy phải có cặp giò óng nuột, trắng nõn. Đằng này…chân với chả cẳng! Đen thủi đen thui. Đã vậy lại còn khùng khoèo như gộc tre, gộc sắn. Đến thế mà vẫn động cỡn. Khiếp! Trông mà vãi linh hồn! Nhiều lúc, tớ chỉ ước thành Chủ tịch tỉnh, hay một ông nào đó thật to cấp Trung ương. Để làm gì? Cậu biết không? Để ký một sắc lệnh khủng. Cấm tuyệt đối những em chân cẳng khùng khoèo, những mụ chân voi không được mặc váy!”.
Cũng may, ông bạn tôi chỉ là một gã nhà văn ất ơ, nên các em ô mai, các mợ sồn sồn vẫn tỏa hương ngào ngạt. Đám cưới quả là một thiên đường. Không có chốn bồng lai tiên cảnh ấy, chị em còn biết kiếm ở đâu ra những “sân khấu” sôi động để …biểu diễn thời trang.
Vui thì có vui, nhưng quả cũng mệt. Bởi thế, tôi ủng hộ việc làm của Thành ủy Hà Nội, gợi ý cưới giản dị. Cỗ cưới chỉ nên tổ chức 50 mâm. Không ít ban đọc băn khoăn: Sao Thành ủy lại sờ đến từng mâm cỗ cưới của dân? Có cần can thiệp sâu đến thế không? Cưới xin thế nào là việc riêng của mỗi gia đình. Tùy theo sở thích của từng khổ chủ. “Cứ tự sinh tự diệt là tốt nhất”.
Thì sự sống vẫn “tự sinh tự diệt” đấy chứ! Dự thảo chỉ thị ấy chỉ nhằm “hạn chế cán bộ, lãnh đạo các cấp của Hà Nội tổ chức lễ cưới cồng kềnh cho con cháu ở những nơi quá sang trọng, gây tốn kém, lãng phí, không phù hợp với thu nhập chung của cán bộ, công chức”. Đây chỉ là gợi ý. Dân tự lựa chọn. Bởi thế, “việc thực hiện các nội dung trên cũng không cần phải lập ban giám sát”.
Thế là rõ. Đây không phải lệnh cấm. Xin bà con đừng oán trách Thành ủy Hà Nội. Mà nếu có là lệnh cấm thì cũng rất khó thực thi. Đã có lần, tôi định tổ chức đám cưới riêng theo kiểu của tôi. Chủ yếu là báo hỉ. Chỉ mời ba mươi bạn thân nhất của cả hai vợ chồng, xuống một con thuyền, dạo ba vòng  trên Hồ Tây. Tiền thuê thuyền hồi đó là ba triệu. Tiền bia với đồ ăn cho cả ba mươi người cũng chỉ mười lăm triệu đồng. Gọn nhẹ mà vẫn vui. Người đến dự không mang theo quà tặng và phong bì. Chỉ mới dự kiến thế mà bạn bè tôi đã phản đối rầm rầm. “Cậu đừng có mà dửng mỡ. Dở hơi! Muốn chơi trội à?”. Thi sĩ Nguyễn Đình Chiến còn làm cả một bài thơ dài độc vận diễu cợt tôi:
Đám cưới trên sông. Chà! Tuyệt nhỉ
Xem trò rối nước cũng không hơn
Mấy ông bạn thân của tôi bảo: “Cậu đừng dại dột thế. Không phải cứ muốn làm gì thì làm. Bây giờ cậu không còn là cậu nữa đâu. Còn nhà gái nữa chứ. Họ có thích thế không? Đời người chỉ một lần. Con gái người ta như thế, có phải rẻ rách đâu mà quấy quá cưới chui cưới lủi!”. “Cậu là thằng thi sĩ ất ơ chứ có phải quan chức quái gì đâu mà phải giữ kẽ để còn leo lên nữa? Thi sĩ thì leo lên đâu? Hay cậu muốn làm một quả giả vờ liêm khiết để thăng quan đấy?”. Ối giời đất ơi! Khiếp quá. Đến thế thì không còn là chuyện cưới xin nữa rồi. Tôi xây xẩm mặt mày. Không ngờ một việc cỏn con lại thành chuyện nghiêm trọng đến thế. Nhà văn Chu Lai bảo: “Tớ dự cưới con thằng bạn đại gia. Thiếp cưới có một một dòng ghi chú đề rõ: Xin vui lòng không mang phong bì. Một đám cưới lạ. Nhưng khách khứa lại nhìn nhau bẽ bàng. Bởi ăn xong, ai cũng đứng dậy quẹt mỏ. Mình cứ thấy có cái gì khuất tất!”. “ Thôi! Hãy cứ làm một người bình dân để lẫn vào đám đông!”.
Nhiều bạn khuyên tôi thế. Và để “lẫn vào đám đông”, tôi cũng tổ chức cưới như tất cả mọi người. Cuộc “cải cách” hoàn toàn thất bại. Bạn bè tôi cũng thế. Họ cũng muốn “phá cách” trong cưới xin lắm mà rồi cũng có làm nổi đâu.
Tôi nhận được “cú phôn” của anh bạn mời dự cưới con. “Cậu ở đâu để mình trực tiếp mang thiếp mời đến?”. “Bác báo thế là tuyệt vời rồi. Người ta sinh ra điện thoại để giải phóng đôi chân. Có điện thoại rồi, sao phải khổ thế? Chỉ xin gần đến ngày cưới, bác làm ơn “nháy” lại một lần nữa nhá, kẻo rồi nhiều việc, tôi quên, không được mừng cháu!”.
Đúng ngày, giờ, tôi đến Khách sạn Công Đoàn. Mới hay đó là một quần thể khách sạn. Có bốn đám cưới cùng tổ chức. Đám nào cũng uỳnh uỳnh giậm dật cả. “Có phải đám cưới con ông ấy…ông ấy không?”. “Đúng rồi! Đúng rồi đấy!”. Tôi chỉ biết bố mẹ mà không biết tên cô dâu chú rể. Những người sốt sắng “soi đường chỉ dẫn” cho tôi lại chỉ quen biết chú rể cô dâu, mà không biết đấng sinh thành. Tôi nhét phong bì vào hộp quà mừng rồi chỗm chệ ngồi vào bàn tiệc. Đến khi cô dâu chú rể xuất hiện dưới làn pháo hoa giấy mù mịt cùng với cha mẹ hai bên, tôi mới ngỡ ngàng vì không phải những gương mặt mình thân quen. Nhầm rồi! Tôi lặng lẽ rời bàn tiệc, rồi loay hoay một lúc sau, tôi mới tìm được đúng địa chỉ “của mình”. Chỉ khổ nỗi trong túi chẳng còn một cái phong bì nào. Ở nơi cưới, người ta cũng không có sẵn phong bì bán. Thế là lại phải lộn ra phố. “Sắm” lại được món quà tặng thì tiệc cũng đã tàn.
Một lần khác, ông bạn thân của tôi cưới cô cháu gái xinh đẹp. Hôm ấy đám cưới lại trùng với đám tang con anh bạn bị tai nạn giao thông. Tiệc cưới bắt đầu lúc 11 giờ, còn đám tang viếng lúc 13 giờ. Tôi đã chuẩn bị cẩn thận hai chiếc phong bì rồi cũng lại cẩn thận để ở hai túi quần khác nhau. Vẫn cứ đinh ninh “túi vui bên phải, túi buồn bên trái”. Đầu óc cũng đâu đến nỗi mụ mị. Vui chuyện một hồi bên bàn tiệc rồi, tôi chợt linh cảm thấy có gì không ổn. Kiểm tra chiếc phong bì còn lại trong túi, tôi chợt tá hỏa khi nhìn thấy dòng chữ của chính mình: “Chúc mừng hạnh phúc hai cháu!”. Và như thế, chiếc phong bì: “Một nén tâm nhang thương tiếc cháu. Xin chia se cùng gia đình nỗi đau thương không gì bù được này. Xót quá!” đã nằm trong hộp “Chúc mừng” rồi. Một sự nhầm lẫn như ma ám.

Giữa mùa đông lạnh mà mồ hôi vã đầm đìa. Tôi hoảng hồn tìm anh bạn: “Chết thật, mình bỏ nhầm phong bì. Đây mới là quà mừng cháu!”. “Ối trời, ông đến với gia đình tôi là rất mừng rồi. Không cần thêm gì cả! Giờ ông lại có quà cho cháu. Ông cho cháu bao nhiêu cũng rất đẹp. Không cần phải đổi lại làm gì!”. Có lẽ ông bạn tôi nghĩ rằng, vì thân quen đặc biệt giữa tôi với bạn, nên phong bì “nặng” hơn một chút. Và vật chất, đối với bạn đâu có quan trọng gì. Nhưng nỗi đời lại không phải đơn giản như thế. Tôi cũng không thể nói được với anh bạn chiếc phong bì bị bỏ nhầm ấy là phong bì gì. Nếu “Một nén tâm hương thương tiếc cụ…” thì có thể cho qua, rồi cho tiếp cái phong bì “chuẩn” vào, nói bạn và gia đình đôi bên thông cảm thì có thể còn “chấp nhận” được. Đằng này “Một nén tâm hương thương tiếc cháu…” thì xúi quá, “tàn bạo” quá, không thể bao biện được. Bắt buộc phải đổi lại. Phải hủy bằng được cái phong bì đó. Và tôi phải trực tiếp làm, chứ cũng không thể để cho người nhà cháu làm được. 
Mọi người ngạc nhiên và không ít người đã nhếch mép cười khi thấy lão Khoa lọ mọ lục lọi trong cả một đống phong bì. Cũng đã từng có những gã dở hơi, đi vào nhầm đám cưới nhà người ta, rồi cứ nằng nặc đòi khổ chủ phải trả đúng cái phong bì mình đã bỏ nhầm. Trong con mắt nhiều người dự tiệc cưới hôm ấy, có lẽ tôi cũng là một lão già dị mọ và bẩn thỉu như thế. Bây giờ nghĩ lại, tôi vẫn còn xấu hổ, chỉ muốn kiếm một cái lỗ để…chui…/.